Ớt là loại gia vị quen thuộc trong bữa cơm hàng ngày của người dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Từ cây ớt rừng bình dị như chính cuộc sống của người dân nơi đây, chị em phụ nữ xã Phú Lương, huyện Lạc Sơn đã phát triển thành sản phẩm thế mạnh giúp nhiều hộ gia đình vươn thoát nghèo...

Cây ớt rừng quả nhỏ hơn đầu đũa, có vị cay dịu, thơm, giòn đặc trưng của núi rừng Phú Lương nên từ lâu đã được bà con người Mường coi là thứ gia vị không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày. Theo người dân nơi đây, giống ớt này mọc ở trên rừng, thấy ngon nên một số người mang về trồng trong vườn nhà để làm gia vị phục vụ nhu cầu của gia đình; Có gia đình cây ớt phát triển tốt, cho nhiều quả không sử dụng hết thì muối ớt vào các chai nhựa, hộp nhựa để ăn dần; Khi có anh em bạn bè đến chơi dùng làm quà, dần dần trái ớt rừng Phú Lương được nhiều người biết đến. Từ đó, bà con trong xã bắt đầu muối ớt và mang ra chợ bán nhỏ lẻ.

Những năm gần đây do nhu cầu tiêu thụ ớt rừng tăng mạnh, chị em phụ nữ ở xóm Băn, xã Phú Lương cùng nhau liên kết trồng ớt để làm hàng hóa. Năm 2018 tổ sản xuất ớt xóm Băn được thành lập do chị Bùi Thị Hà làm tổ trưởng; việc thành lập Tổ sản xuất đã tạo thêm cơ hội để giúp đỡ nhau trong phát triển sản xuất tiêu thụ sản phẩm.

Lạc Sơn bài 1

 Khi mới thành lập, gian nan luôn như một người bạn song hành, các thành viên trong tổ sản xuất cùng nhau đưa cây ớt rừng về trồng trong vườn nhà, trồng ven rừng với quy mô nhỏ lẻ. Đến nay, tổ sản xuất có 15 thành viên tham gia đã và đang đưa cây ớt rừng trồng trên chân đất một vụ lúa, diện tích tập trung hơn thuận tiện cho chăm sóc và thu hái. Thời vụ trồng thích hợp vào tháng 9 - tháng 10 và cho thu hoạch nhiều lứa/năm; mật độ trồng khoảng 7.000 cây/ha; năng suất trung bình 4,9 tấn/ha, giá bán trung bình khoảng 120.000 đ/kg. Ngoài bán quả tươi, Ớt sau khi thu hoạch còn được chị em trong tổ sơ chế nhặt sạch, ngâm muối theo kinh nghiệm truyền thống với lượng 10kg ớt + 1kg muối + 1 quả chanh trộn đều, sau đó đóng vào chai nhựa, lọ thủy tinh để bán cho du khách, mỗi chai ớt bán với giá từ 35.000đ đến 50.000đ/chai. Với cách muối này ớt để được lâu hơn và có thể vận chuyển đi xa. Như vậy, so với trồng lúa, trồng ngô chị em có thu nhập cao hơn gấp khoảng 4-5 lần. 

Chị Bùi Thị Hà, tổ trưởng Tổ hợp tác chia sẻ: tổ hợp tác mới thành lập nên còn nhiều khó khăn, mong muốn của các thành viên là được hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật để vừa mở rộng sản xuất đồng thới áp dụng được các biện pháp sản xuất ớt sạch. Tổ chức sản xuất theo hướng trồng tập trung, chuyên canh, thống nhất quy trình trồng, chăm bón, thu hoạch để nâng cao hơn nữa năng suất, chất lượng sản phẩm. Để cây Ớt rừng không chỉ giúp chị em phụ nữ vươn lên thoát nghèo mà còn có thể làm giàu trên chính mảnh đất của mình./

                                                                                                                                      Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện Lạc Sơn

Trồng cây mướp đắng  (khổ qua) lấy hạt ở xã Mai Hạ, là mô hình kinh tế mới, thể hiện sự gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà nông. Mô hình này đang mở ra hướng đi mới nhiều triển vọng cho người nông dân địa phương bởi hiệu quả mà nó mang lại.

Năm 2019,ủy ban nhân dân xã Mai Hạ liên kết với Công ty Nhiệt đới triển khai mô hình trồng khổ qua lấy hạt cho 4 xóm (Đồng Uống, Lầu, Khả, Tiền Phong) với khoảng 20 hộ dân tham gia với diện tích 1ha. Khi tham gia mô hình, các gia đình được cung cấp hạt giống, được hợp tác đầu tư ứng trước vật tư và được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn tận tình kỹ thuật canh tác và bao tiêu sản phẩm. Cùng với thời tiết thuận lợi, Mướp đắng phát triển xanh tốt và cho ra hạt giống chất lượng cao.

Bà Vì ThịThanhtham gia mô hình với 800 m2 . Theo bà Thanh, đây là vùng đất 2 lúa tuy nhiên so với làm lúa, trồng ngô thì trồng cây mướp đắng hiệu quả hơn nhiều.Thấy trồng loại cây này có lãi cao, không tốn công chăm sóc mà đầu ra ổn định nên gia đình bà mạnh dạn mở rộng diện tích. Một năm có thể sản xuất 3 vụ mướp đắng với năng suất bình quân mỗi sào đạt khoảng 50 kg hạt. Với giá bán 500.000 đồng/kg hạt, sau khi trừ chi phí gia đình thu về khoảng 20 triệu/sào/vụtừtrồng mướp đắng.

Mai Châu bài 4 ảnh

Đây là mô hình sản xuất thể hiện sự trách nhiệm, gắn kết giữa người nông dân với doanh nghiệp và ngược lại. Việc công ty Nhiệt đới đầu tư phân bón, dụng cụ chăm sóc, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm đầu ra đã giúp bà con an tâm hơn, tập trung vào sản xuất. Đồng thời, việc tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, tuân thủ quy trình sản xuất mà Hợp tác đưa ra giúp bà con nông dân nâng cao trình độ sản xuất, thay đổi thói quen canh tác như trước đây.

Việc trồng cây mướp đắng lấy hạt đem lại hiệu quả cao, nâng cao thu nhập cho người dân cũng là kết quả đáng mừng trong việc vận động người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng của địa phương. Trong thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục mở rộng sản xuất cũng như nhân rộng các mô hình hiệu quả cao trong nông nghiệp để người dân tham gia, làm giàu chính đáng.

Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện Mai Châu

Ngoài cây lúa là cây trồng chủ lực thì anh Lê Thanh Khiêm xóm Tiền Phong, xã Mai Hạ còn trồng mướp khía lấy hạt với các loại rau màu khác, góp phần đa dạng hóa cây trồng, tăng thu nhập gia đình. Vốn là một nông dân chịu khó tìm tòi, học hỏi nên trước khi đến với cây mướp khía thì anh Khiêm từng trồng rất nhiều cây màu khác nhau.Vụ vừa rồi hộ nhà anh Khiêm được công ty THHH đầu tư và phát triển Nhiệt Đới hỗ trợ về giống và kỹ thuật, gia đình anh tiên phong trồng thử nghiệm giống mướp khía lấy hạt với diện tích 2.600 m2. Trong quá trình trồng, anh Khiêm nhận thấy đây là cây trồng phát triển rất tốt, năng suất, chất lượng cao, được thị trường ưa chuộng nên quyết định vụ tới tiếp tục sẽ chuyển đổi một số loại cây trồng kém hiệu quả sang trồng mướp khía. Chia sẻ về kinh nghiệm trồng, anh Khiêm cho biết: So với các cây màu khác thì mướp khía ít bị sâu bệnh, nếu bị ong chích thì sử dụng thuốc sinh học chứ không dùng thuốc hóa học nên rất an toàn.                          

Mai Châu bài 3 ảnh

Nhờ chịu khó chăm sóc nên diện tích trồng mướp khía của gia đình anh Khiêm phát triển tốt, trái xanh đẹp, hạt thu hoạch phơi khô bán ra thị trường với giá khoảng370.000 đồng/kg. Thời gian trồng nhanh cho thu hoạch, từ lúc trồng nếu chăm sóc tốt thì thời gian thu hoạch hạt khoảng hơn3 tháng. Theo tính toán của anh Khiêm, với diện tích gần 2.600m2 mướp khía, nếu trúng mùa, được giá, trừ chi phí cũng thu được hơn 50 triệu đồng. Với kỹ thuật trồng đơn giản, không tốn công chăm sóc và chi phí đầu tư ít, đầu ra dễ dàng nên mô hình mướp khía lấy hạt đang được một số bà con trên địa xã Mai Hạ nhân rộng, góp phần tăng hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích.

Từ thành công mô hình trồng mướp khía lấy hạt của mình, anh Khiêm đã chia sẻ kinh nghiệm cho nhiều nông dân khác ở địa phương cùng làm theo. Theo lãnh đạo ủy ban nhân dân bên cạnh các cây màu chủ lực như: bầu, bí, dưa hấu, mướp đắng… thời gian tới tiếp tục khuyến cáo bà con nhân rộng mô hình mướp khía; đồng thời giúp nông dân lựa chọn mô hình sản xuất mới, phù hợp, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa phương, tăng thu nhập, ổn định đời sống người dân./

                                          Trạm Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật huyện Mai Châu

Những năm gần đây, dưa lê Hàn Quốc xuất hiện trên địa bàn huyện Mai Châu và dần trở thành một hướng phát triển kinh tế mang hiệu quả cao. Với nhu cầu nâng cao thu nhập, kinh tế hộ gia đình, ông Hà Công Hạnh, xóm Báo, xã Bao La, huyện Mai Châu đã mạnh dạn chuyển đổi những diện tích đất ruộng trồng cây kém hiệu quả sang trồng dưa lê. Đến nay, mô hình của gia đình ông đã cho thu nhập ổn định trở thành mô hình điển hình cho nhiều hộ trong xã học hỏi.

Năm 2016, ông Hạnh bắt đầu đầu tư trồng dưa lê Hàn Quốc; là một trong những hộ tiên phong trồng dưa lê ở địa phương, nên ông phải tự tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Sau đó, được sự hỗ trợ của tổ chức Good Neighbor International (GNI) tại Việt Nam, ông được chuyển giao KHKT và hướng dẫn thực hiện làm luống, cách sử màng nilon bảo vệ và lắp đặt hệ thống tưới nước tự động để trồng dưa với tổng diện tích trên800 m2.

Ông Hạnh cho biết: Dưa lê Hàn Quốc sinh trưởng và phát triển nhanh, ít bị bệnh phấn trắng nên đỡ tốn công chăm sóc và tiết kiệm được khá nhiều chi phí. Hơn nữa, hương vị ngọt thơm, phù hợp với thời tiết nắng nóng mùa hè nên được nhiều người ưa chuộng. Hiện tại, mỗi cân dưa lê Hàn Quốc bán tại siêu thị có giá từ 50.000 - 60.000 đồng/kg, chúng tôi chỉ cần bán với giá từ 30.000 đồng/kg thì cũng đã đảm bảo có lãi và bù được chi phí ban đầu. Với khoảng thời gian 3 tháng/vụ, mỗi quả nặng trung bình trên 1 kg, dưa lê Hàn Quốc có thể canh tác được 3 vụ/năm.     Đợt thu hoạch trong tháng 10 năm 2019, gia đình ông thu hoạch đạt khoảng2 tấn, siêu thị Vinmart lên thu mua với giá bán trung bình 30.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, gia đình ông thu lãi khoảng 30 triệu đồng.

Mai Châu bài 2 ảnh

Dưa lê Hàn Quốc đem lại hiệu quả kinh tế cao tại huyện Mai Châu

Để quả sinh trưởng và phát triển tốt, tăng năng suất, đảm bảo các yêu cầu chất lượng đến khi thu hoạch. Năm nay, cùng với sự hỗ trợ của huyện, ông đầu tư làm hệ thống nhà lưới bảo vệ toàn bộ diện tích trồng dưa. Hiện đã hoàn thành việc xây dựng và đang tiến hành làm luống để trồng 1600 m2 dưa lê trong vụ tiếp theo, thay thế diện tích đang trồng lúa hiện nay.

Bởi đem lại hiệu quả kinh tế khá nhanh và ổn định nên dưa lê Hàn Quốc ngày càng được nhân rộng trên địa bàn huyện. Đồng chí Khà Văn Diện, Phó trưởng phòng NN&PTNT huyện Mai Châu cho biết: Đây là giống có khả năng chống chịu bệnh phấn trắng và sương mai khá, chất lượng quả ngọt, thơm, hàm lượng chất dinh dưỡng cao, đem lại hiệu quả kinh tế nhanh hơn so với nhiều loại cây trồng truyền thống. Hiện trên thị trường loại quả này được bán không nhiều, vì vậy đây là cơ hội để nông dân địa phương biến những phần diện tích trồng cây kém hiệu quả từng bước trở thành những cánh đồng đạt giá trị cao.

Trạm trồng trọt & Bảo vệ thực vật huyện Mai Châu.

Nhằm đánh giá, lựa chọn giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương trong những năm qua huyện Mai Châu đã trồng thử nghiệm nhiều giống lúa để lựa chọn giống phù hợp khuyến cáo đến bà con nông dân trong toàn huyện.

Giống lúa BC15 thuộc bản quyền của Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Bình Seed được xem là lựa chọn hàng đầu trong cơ cấu mùa vụ của người nông dân, chiếm khoảng trên 80% diện tích lúa toàn huyện Mai Châu. Được đưa vào cơ cấu giống của huyện từ những năm 2010 đến nay được 9 năm bởi năng suất cao, chất lượng gạo thơm ngon, hạt trong, cơm dẻo được người tiêu dùng ưa chuộng, đặc biệt là phục vụ khách du lịch đến Mai Châu mua về sử dụng và làm quà.

Mặc dù được đánh giá là một trong những giống lúa tốt có nhiều ưu điểm, tuy nhiên sau nhiều năm đưa vào sản xuất giống lúa BC15 cũng có một số nhược điểm như nhiễm bệnh đạo ôn. Nhận thấy những nhược điểm đó, Tập đoàn Thái Bình Seed đã nghiên cứu, cấy thành công gen kháng bệnh đạo ôn (Pita) vào giống lúa BC15, cây vẫn giữ nguyên những đặc tính quý của giống BC15 và bắt đầu trồng khảo nghiệm trong vụ đông xuân 2017-2018 tại nhiều vùng miền.

Mai Châu bài 1 ảnh

BC15-02 trồng tại xóm Văn, Poom Coong, Thị Trấn Mai Châu

Trong vụ xuân 2019 tại huyện Mai Châu, Công ty CP tập đoàn Thái Bình Seed đã hỗ trợ trồng khảo nghiệm giống lúa BC15-02, diện tích cả hai vụ 8,5 ha (Trong đó vụ chiêm xuân 2,5 ha tại xã Mai Hịch, vụ mùa 6 ha tại Thị trấn Mai Châu ). Kết quả bước đầu cho thấy giống BC15-02 cây có khả năng đẻ nhánh tốt, trỗ tập trung, khả năng tái sinh mạnh sau thiên tai, dịch bệnh và khắc phục tương đối tốt nhược điểm nhiễm bệnh đạo ôn. Số dảnh hữu hiệu cao, bông to dài, hạt xếp xít, số hạt chắc/bông cao. Ước tính năng suất thực thu vụ mùa 2019 là 68 tạ/ha, vượt so với giống BC15 bà con nông dân vẫn trồng là 7,8 tạ/ha, thu nhập 57.800.000 đồng/ha, sau khi trừ chi phí còn lãi trên 35.061.000 đồng/ha. Giống BC15 cho thu nhập 51.170.000 đồng/ha, trừ chi phí còn lãi trên 26.726.000 đồng/ha, thấp hơn so với giống BC15 có chuyển gen kháng đạo ôn là 8.335.000 đồng/ha. Nguyên nhân do giống BC15 nhiễm đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông nên bà con nông dân phải chi phí thuốc bảo vệ thực vật và công lao động cao hơn giống BC15 có chuyển gen kháng đạo ôn là 1.830.000 đồng/ha.

Với kết quả đạt được từ mô hình khảo nghiệm, bà con nông dân có niềm tin rằng giống lúa BC15-02 sẽ sớm được Công ty CP tập đoàn Thái Bình Seed đưa vào sản xuất. Việc mở rộng và phát triển giống lúa này sẽ giúp bà con nông dân được tiếp cận giống lúa năng suất cao, ít sâu bệnh, giảm chi phí sản xuất từ đó tăng giá trị sản xuất cho người nông dân và góp phần giảm ô nhiễm môi trường sinh thái.

Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện Mai Châu

Chuyên mục phụ

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu


Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu


Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu


Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu


Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu


Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu


Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu


Nghị định số 4/2020/NQ-CP ngày 03/01/2020 của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y


Nghị định 84/2019/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý phân bón


Thông tư 19/2019/TT-BNNPTNT, ngày 15/11/2019, Quy định việc thu gom, xử lý và sử dụng phế phụ phẩm cây trồng


Công văn 2125/UBND-NNTN, ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh, v/v tăng cường công tác chỉ đạo phòng trừ chuột, bảo vệ sản xuất


Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu



Video hoạt động

htx3333

Thông tin cần biết

Giavang 
CHung khoan 
TY GIA 
Thoi tiet 

Điện thoại hữu ích

Số điện thoại tiếp nhận của các tổ chức, cá nhân liên quan đến giải quyết Thủ tục hành chính
 02183.851.017

Thống kê truy cập

748190
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
391
714
3924
738321
21085
53692
748190

Your IP: 3.233.219.101
2020-01-22 08:41
Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction